HỌC HỎI, THỰC HÀNH Y KHOA
I/ HIỂU BIẾT CĂN BẢN VỀ BỆNH CẢM NHIỄM
5 GIAI ĐOẠN TÀ KHÍ TẤN CÔNG CƠ THỂ CON NGƯỜI
Đông y gọi CÁI tồn tại trong cơ thể khiến cho con người mạnh khoẻ, có khả năng chống lại những tác nhân gây hại từ bên ngoài là CHÍNH KHÍ; những tác nhân từ bên ngoài gây bệnh cho con người là TÀ KHÍ.
Chính khí có được nhờ ăn, uống, hít thở và tập luyện cơ thể; tà khí là các thứ khí: phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả (gió, lạnh, sức nóng gián tiếp, ẩm, khô khan, sức nóng trực tiếp). Các thứ khí này có liên quan đến các bệnh truyền nhiễm mà Đông y gọi là dịch lệ. Các nghiên cứu xuất phát từ quan điểm kết hợp Đông, Tây y chứng minh rằng: các thứ khí này, tuỳ thời điểm và vị trí của sự vận hành quả đất trong vũ trụ sẽ làm điện trường quả đất thay đổi dẫn đến sự gia tăng bất thường của các loại trùng khuẩn cực nhỏ. Những loại này xâm nhập vào mũi, thông xuống phổi, đồng thời khu trú ở da lông (số lượng lỗ chân lông có tới hàng vạn và làm chức năng trao đổi chất với môi trường gấp nhiều nhiều lần so với hai lỗ mũi – đây là kiến thức mà Tây y tuy đã biết nhưng chưa vận dụng vào điều trị các chứng cảm; vì vậy các bác sỹ Tây y chỉ mới dừng ở trình độ chỉ định cho bệnh nhân xông mũi theo nguyên lý đau đâu chữa đó. Trong thực tế, kinh nghiệm dân gian phương Đông đã có cách xông toàn cơ thể và phải cởi hết đồ ra mới hiệu quả).
Bình thường, mọi sinh vật đang tồn tại đều có chính khí mạnh hơn tà khí.
Tà khí tấn công con người như thế nào? Nói bằng từ chuyên ngành là theo con đường tương khắc (luận theo Ngũ Hành). Con đường này nói cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: Tà khí tấn công vào phần cơ thể con người tiếp xúc trực tiêp với môi trường là da, lỗ chân lông, mũi; thông sâu vào cơ thể ở vị trí phổi (tạng phế). Đông y cho rằng da, lông, mũi và phổi có quan hệ với nhau, kết nối nhau bằng kinh Thái Âm phế, thuộc hành Kim. Chức năng của nhóm này là thông khí, làm cơ sở để thông huyết. Khi tà khí tấn công vào nhóm da, lỗ chân lông, mũi thì người bệnh có những biểu hiện như: chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, hắt hơi, một hai ngày sau thì phát ho, giọng nói cũng khác đi; da sởn gai ốc hoặc lỗ chân lông sít lại, sờ vào thấy nóng. Người ta gọi đây là bệnh cảm hoặc cảm nhiễm. Cảm là giai đoạn đầu nên dễ dàng đẩy tà khi ra ngoài, nếu không, nó sẽ lấn sâu vào gan mật theo nguyên lý KIM khắc MÔC.
Cách chữa cảm đơn giản là dùng cách mà Thị Nở chữa cho Chí Phèo. Đó dùng bát cháo tiêu hành cho bệnh nhân ăn; nhưng Thị Nở còn thiếu bài XÔNG (xông lá tức là dùng các loại lá có tinh dầu cho vào nồi lớn, nấu sôi đến mức nước bốc hơi mạnh, nhắc xuống, trùm chăn kín ngồi trong đó chừng 25 đến 30 phút). Có lẽ Thị không thể xông cho Chí vì xông thì phải … cởi hết đồ ra.
Phải xông bằng các loại lá hoặc chất lỏng có tinh dầu, loại tinh dầu có tính diệt khuẩn cao càng tốt. Những loại tinh dầu này vừa có tác dụng diệt vi khuẩn/vi rút, vừa thông khí. Nghiên cứu mới đây cho rằng vi rút có một lớp lông nhỏ, mịn bao ở bên ngoài và lớp lông này sẽ bị rụi đi khi gặp tinh thể dầu, lúc đó vi rút sẽ bị chết. Tinh dầu thuộc dạng hữu cơ tự nhiên, không có hại; khi bám vào các lỗ chân lông hoặc khi vào vào phổi sẽ diệt khuẩn trong các lỗ chân lông, chặn không cho vi khuẩn tiếp tục xâm nhập vào cơ thể. Tinh dầu toả ra từ nồi xông sẽ diệt các loại khuẩn bám vào hệ thống hô hấp con người vừa diệt khuẩn trong phòng hoặc trong nhà. Nếu kết hợp xông lá (bằng nồi nước xông) với cách dùng lá để xông toàn căn nhà khi đang mùa dịch lệ thì càng hay. Nhà có điều kiện thì dùng trầm hương. Như đã nói, theo các nghiên cứu của Tây y, bên ngoài virus có những sợi tua lông cực nhỏ và rất dễ bị tinh dầu phá huỷ.
Trường hợp trúng hàn khí (phong hàn, nước mưa, nước suối lạnh,….) thì phải xông lửa, tức dùng “mặt trời siêu nhỏ” để xông. Tập quán dùng lá, trầm hương, đĩa dầu phụng/phộng để xông cơ thể, xông nhà là một biểu hiện của văn hoá y khoa truyền thống phương Đông, giúp bảo vệ con người và bảo vệ môi trường sống.
Giai đoạn 2: Tà khí vào đến gan mật tức là tấn công vào phần phòng ngự tuyến 2 (da lông là tuyến 1). Gan và mật chủ quản về gân. Triệu chứng lúc này ngoài các chứng của giai đoạn 1 còn có thêm các hiện tượng khác như: sốt cao hơn, các gân khớp rệu rảo, không muốn vận động, chỉ muốn nằm; tà khí lấn sâu sẽ làm đắng miệng, không muốn ăn (do các chức năng chuyển hoá protid, lipid, glucid của gan suy giảm). Giai đoạn 2 cũng vẫn dùng bài xông để đẩy tà khí ra nhưng phải có trình độ chuyên môn, phải xem mạch kỹ để biết tà khí đang trú ở phân khúc nào và dùng thêm các loại thuốc nào cho phù hợp. Lúc này bệnh nhân đã mất sức, mệt mỏi, nếu lạm dụng xông khiến cơ thể họ mất nhiều nước mà không bù nước kịp (truyền dịch) thì rất nguy hiểm.
Ở giai đoạn 1 và 2 bệnh thuộc phần BIỂU tức phần bên ngoài, còn dễ trị. Nếu không đẩy tà khí ra thì nó lấn sâu vào lách và bao tử (nhóm này có tuyến tuỵ chuyên điều tiết insulin) theo nguyên lý MỘC khắc THỔ.
Giai đoạn 3: Tà khí vào lá lách, bao tử tức là đã chọc chủng được 2 phòng tuyến, đi vào vị trí “bán biểu, bán lý” (vị trí nằm ở giữa bên ngoài và bên trong). Triệu chứng sẽ gồm có những triệu chứng ở giai đoạn 2, kèm theo ói mửa do tà khí khuấy động ở phần bao tử. Bệnh nhân ăn không được, nếu ăn được chút cháo thì dưỡng trấp từ thức ăn không được chuyển hoá hết do tuỵ suy giảm điều tiết insulin, ruột non thiếu insulin. Cơ thể gầy rạc, suy nhược vì lá lách và bao tử chủ yếu xây dựng cho phần thịt của cơ thể. Đây là giai đoạn nguy hiểm, nếu không đẩy tà khí ra thì nó lấn tiếp vào xương tuỷ theo nguyên lý THỔ khắc THUỶ. Giai đoạn 3 cũng vẫn dùng bài xông để đẩy tà khí ra nhưng phải có khả năng chuyên môn cứng hơn, phải xem mạch thật kỹ để biết tà khí đang trú ở phân khúc nào và dùng các loại thuốc nào cho phù hợp. Cũng như giai đoạn 2, lúc này bệnh nhân đã suy yếu nhiều, nếu lạm dụng xông khiến cơ thể họ mất nước mà không bù nước kịp (truyền dịch) thì càng nguy hiểm.
Giai đoạn 4: Tà khí vào xương tuỷ tức là đã “nhập lý” nghĩa là vào sâu bên trong. Đây là giai đoạn sống chết kề nhau. Đông y có câu: “Hàn ngộ hàn tắc tử, nhiệt ngộ nhiệt tắc vong” là ở giai đoạn này. Thầy thuốc non tay xem mạch nhầm thì chết chắc, không xoay trở gì được, cho thở oxy được một vài tiếng là may, có khi thuốc vào khỏi miệng thì đã chết ngay rồi. Do là giai đoạn cưc kỳ nguy hiểm, nếu không đẩy tà khí ra thì nó sẽ lấn tiếp vào tim và ruột non theo nguyên lý THUỶ khắc HOẢ. Ở giai đoạn 4 cũng vẫn dùng bài xông để đẩy tà khí ra nhưng phải có chuyên môn sâu, phải có kinh nghiệm nữa, phải xem mạch thật kỹ để định ra một “thế trận tổng hợp", vừa công vừa dưỡng sức.
II/ BỆNH TRÚNG GIÓ
Trong dân gian người ta còn gọi là trúng phong. Vậy gió "đánh" vào con người như thế nào?
Trước hết, chúng ta cần biết gió tuy không thấy nhưng đó là sự chuyển động của không khí từ vùng khí áp cao (lạnh) đến vùng khí áp thấp *nóng). Sức gió có thể mạnh đến mức hất cả tàu thuyền lên bờ, xô đổ nhà cửa, cây cối. Khi luồng gió đi qua chỗ hẹp thì vận tốc tăng đột ngột, lúc này gió trở thành hàng trăm mũi tên vô hình nhưng bay rất nhanh, phóng vào các huyệt vị của con người. Huyệt vị là những "điểm đọng" trên các hệ thống kinh lạc. Nếu hệ kinh lạc là một "siêu xa lộ" thì những huyệt vị là các trạm có chức năng sinh hoá vô cùng phức tạp. Khi những "mũi tên gió" cắm trúng vào những trạm này sẽ làm tắc nghẽn hệ tuần hoàn cùng những hệ thống sinh hoá khác trong cơ thể. Hệ quả là cơ thể bị rơi vào tình trạng "tắt nghẽn" khẩn cấp, áp lực máu bị rối loạn, áp lực máu dồn vào những mạch máu cực nhỏ (phần lớn ở trên đầu), làm vỡ các mạch máu này và tạo ra hiện tượng "tai biến mạch máu não". Nếu các mạch máu não trái bị vỡ thì bệnh nhân bị liệt tay chân bên phải và ngược lại. Thời gian vàng để cấp cứu chỉ trong vài phút. Nếu bệnh nhân lớn tuổi, hệ thống mạch máu bị xơ vữa (xơ là cứng, vữa là mất độ đàn hồi) thì mức độ và phạm vi mạch máu vỡ sẽ rất lớn. Nặng lắm thì người bị tai biến sẽ chết ngay hoặc một thời gian ngắn sau khi bị trúng gió. Đối với tình trạng quá nặng như vậy thì chỉ có cách rạch các huyệt Lao Cung, Dũng Tuyền để xả áp lực máu, nhưng 10 phần thì cũng chỉ cứu được 8 đến 9 phần thôi vì một số mạch máu nhỏ đã bị vỡ ngay khi vừa trúng gió. Trong thực tế không thể xử lý như vậy được, nhất là đối với trường hợp không phải người trong gia đình vì pháp y (pháp luật về y khoa) hiện hành không công nhận cách cứu chữa này. Nếu bệnh nhân không qua khỏi (chết) thì người "làm ơn mang hoạ" tức bị kết tội "cố ý giết người". Tai biến mạch máu não là hiện tượng thuộc giai đoạn 1 nhưng không phải cảm nhiễm nữa mà là bị "trúng" những mũi tên vô hình chết người.
Trở lại chứng trúng gió, nó có nhiều mức độ khác nhau; điều này phụ thuộc vào tốc độ gió, thời tiết nóng lạnh, tình trạng sức khoẻ người bệnh, vị trí huyệt bị tấn công... Nếu những mũi tên vô hình này cắm trúng vào "nhân thần huyệt" thì chết ngay. (Nhân thần huyệt là huyệt vị ở trạng thái thực hiện công năng khi kinh lạc đang vận hành tới đó. Trong 24 giờ, nhân thần huyệt nằm ở những vị trí khác nhau trong cơ thể).
Cách cấp cứu trúng gió
1/ Trong 60 giây, tác động trong khoảng 60 huyệt vị
2/ Thứ tự các vị trí huyệt vị cần tác động: Nhân Trung (điểm giữa dưới mũi) -> Thập tuyên (đầu 10 ngón tay và đầu 10 ngón chân) -> Thái Dương (hai bên màng tang) -> Thần Đình (Giữa chân tóc trán) -> Dọc hai thăng ở sau lưng (các huyệt trên kinh Bàng Quang) -> Khúc Trì (hai chỗ lõm ở hai khuỷ tay -> Hợp Cốc (hai chỗ lõm ở giữa ngón cái và ngón trỏ).
3/ Đặc biệt trường hợp cắn răng, trợn mắt (nếu không xử lý thì sau này sẽ bị câm hoặc nói ú ớ) thì chích thẳng vào đầu lưỡi (lúc này lưỡi đã đưa ra sát răng, chỉ cần cạy hàm một chút, chỗ giữa 4 răng cửa có chỗ trống, chích thẳng vào trúng lưỡi thì miệng tự há ra ngay). Lúc này lưỡi vẫn còn cứng đơ, dùng vật có bản mỏng như: miếng gỗ mỏng y tế, đuôi muỗng, đũa bếp để đẩy lưỡi lên, nhìn vào gốc lưỡi có 2 chấm đen đó là huyệt Kim Tân và huyệt Ngoc Dịch, chen tay vào chích ngay 2 huyệt đó thì lưỡi mềm ra, hỏi trả lời được là sẽ không bị câm.
Cách chữa trị tai biến bị liệt tay chân
Đừng chăm vào lo điều trị châm cứu ở tay chân, trước tiên phải làm tan máu đông bị vỡ ra ở não, tiếp đó là tăng sức cho tạng phủ để cơ thể không bị ngưng trệ. Nên nhớ rằng: Các phương thức châm cứu, xoa bóp tại chân tay chỉ để hỗ trợ vòng ngoài. Và cái chính là hiện nay không có thuốc đặc trị để phục hồi bại liệt bằng cách làm tan máu đông ở não (cả Đông và Tây y) nên người ta xử lý ở tay chân bệnh nhân (một số nước đã sử dụng cách mổ não, để lấy máu đông và khâu lại những mạch máu cực kỳ nhỏ bị vỡ). Loại thuốc tể (viên tròn gọi là hoàn tán) giá cả triệu đến vài triệu nhưng thực chất chỉ có tác dụng trong thời gian đầu. Nếu dùng lâu dài thì không còn hiệu quả mà tốn tiền nhiều. Dùng thuốc Tây thì coi chừng mấy loại thuốc trị nhức đầu lại gây đông máu càng hại thêm (Aspirin (axit acetylsalicylic) là loại giảm đau đầu, đau nửa đầu mà tác dụng phụ thì ... người ta không nói).
Những tuyệt chiêu xử lý trúng gió liên quan tai biến mạch máu não, bại liệt (Đây là những bí thuật kết hợp y thuật và võ thuật cổ truyền đã thực chứng)
1/ Khi bệnh nhân vừa bị trúng gió, thấy có biểu hiện tay chân mềm nhũn ra thì lấy ngay 1 trái đu đủ sống, khoét lỗ, đổ rượu trắng trên 45 độ vào, đặt lên bếp nướng khoảng 25 đến 30 phút để rượu và ruột đu đủ trở thành một dạng nhầy nhầy như nước cơm đang sôi. Đổ ra, lấy tay thoa lên đầu bệnh nhân (không thoa lên tay chân). Nếu tay chân bên trái bị bại xuội thì thoa nhiều phía bên phải của đầu và ngược lại. Sau đó cắt đôi trái đu đủ đó, để hơi nguội một tí rồi áp thẳng vào đầu. Tác dụng của thuốc là gom máu và chống đông máu đồng thời làm lành các mạch máu bị trương phồng do áp lực máu quá cao (hiện tượng chảy máu trong hay xuất huyết não). Lưu ý cách này có hiệu quả nhất là trong khoảng 1 giờ từ khi bị tai biến mạch máu não. Nếu qua thời gian đó thì hiệu quả sẽ giảm bớt và sau 1 ngày thì gần như không còn hiệu quả vì máu đã đông trong não. Lúc này nếu não trái bị tổn thương, máu đông lại trong não thì tay chân bên phải liệt (và ngược lại), nếu cả 2 bên não bị tổn thương thì bại liệt cả người.
2/ Khi không cấp cứu kịp thời như trên thì phải dùng thuốc để làm tan máu đông trong não đồng thời bồi bổ tạng phủ để tăng sức khoẻ, tăng khả năng phục hồi tay chân.
- Bài thuốc tan máu đông: Đảng sâm 12 gram kết hợp Xuyên khung 8 gram, Nga truật 4 gram, Tam thất (chế) 4 gram. Mua 5 thang, sắc uống trong 5 ngày. Khi thấy có hiệu quả thì uống tiếp 5 thang nữa. Nghỉ vài ngày rồi uống tiếp, tuỳ mức độ phục hồi.
- Bài thuốc bổ tạng phủ: Thiên niên kiện 8gr, Ngưu tất 8gr, Đương quy 8gr, Bạch truật 8gr, Đỗ trọng 12gr, Kỷ tử 8gr, Hoàng kỳ 12gr, Thục địa 12gr, Xuyên khung 8gr, Phục linh 12gr, Cam thảo 12gr, Quế chi 6gr. Mua 5 thang, sắc uống trong 5 ngày. Khi thấy có hiệu quả thì uống tiếp 5 thang nữa. Nghỉ vài ngày rồi uống tiếp, tuỳ mức độ phục hồi.
Hai bài này uống cùng một ngày, sáng uống thang tan máu đông, chiếu uống thang bổ tạng phủ. Những hình thức điều trị hỗ trợ như xoa bóp, châm cứu tay chân, giúp bệnh nhân vận động, đi lại sẽ góp phần chống trì trệ cơ thế, giúp hấp thụ thuốc uống, bệnh nhân chóng phục hồi hơn.
Những bài thuốc, vị thuốc
điều trị tai biến
lưu truyền trong dân chúng
Bài 1: Thiên niên kiện, Cỏ xước Phèn đen, Củ Cát lồi. Mỗi thứ 20 gram nấu với 2 lít nước, còn 1,5 lít thì đem uống cả ngày. Cho thuốc vào bình thuỷ để giữ ấm mà uống.
Bài 2: Dùng hoa mào gà tím mọc hoang 100gr nấu với 1 lít nước uống hàng ngày.
Bài 3: Cây mắc cở dùng cả rể, thân, lá, cắt ngắn 100gr nấu uống cả ngày. Có thể nấu hoa mào gà tím với mắc cở để uống cũng được.
Đường trong nước tiểu ở đâu ra? Khi nước tiểu có đường thì có bệnh. Đường không xuất hiện ngay trong nước tiểu mà trước đó đã xuất hiện trong máu. Đó là giai đoạn "đường huyết cao", tức là trong máu có lượng đường cao. Tây y xếp tình trạng đường trong máu cao là tiểu đường tuýp 1 (type 1), khi đường xuất hiện trong nước tiểu là tiểu đường tuýp 2. Vậy đường trong máu cao và có trong nước tiểu diễn biên như thế nào?
Về nguyên nhân:
1/ Do ăn uống đường "giả", đó là những loại đường sau: đường tinh luyện (đường cát), đường hoá học và đường tinh luyện (dùng làm bánh kẹo, nấu chè, pha chế nước ngọt, đóng thành chai hoặc lon nước ngọt có ga hoặc không có ga). Người lớn, trẻ em dùng những loại đồ ăn thức uống có loại đường nói trên về thực tế cơ thể không hấp thụ được mấy (nên bị gọi là giả) Cơ thể ngày càng thiếu đường thật (loại đường hấp có thể thụ 100%) do không có đủ lượng đường cần thiết. Cơ thể bị thiếu đường nhưng miệng không thèm ngọt, không thích ăn uống trái cây chín, nước mía, mật ong v.v.. là các loại chứa đường thật. Kết cục là thói quen ăn uống đường "giả" đã phá vỡ cơ chế chuyển hoá, tiêu thụ đường thật. Cụ thể là tuyến tuỵ bị rối loạn, không điều tiết insulin ổn định, insulin bị thiếu hụt hoặc bị cạn kiệt. Khi insulin không đủ giúp toàn bộ gluco ở ruột non chuyển hoá thành năng lượng thì gluco sẽ bị thừa và vào máu (tiểu đường tuýp 1). Nếu insulin cạn kiệt, không thể giúp gluco ở ruột non chuyển hoá thành năng lượng nữa thì lượng gluco trong máu sẽ tăng quá mức, thận không lọc/chuyển hoá hết thì gluco sẽ có trong nước tiểu (tiểu đường tuýp 2).
2/ Do ăn uống quá nhiều những thứ có độc tố, độ a xít cao như: thức ăn chế biến sai quy định, thức uống có cồn không đúng tiêu chuẩn. Nói chung là ăn uống những thứ không sạch, không an toàn trong thời gian dài. Hậu quả là gan, lách (trong lá lách có tuyến tuỵ), dạ dày, bao từ ... bị rối loại, suy yếu dần, dẫn đến mất chức năng điều tiết, chuyển hoá các chất dịch trong nội tạng. Một khi tuỵ mất chức năng điều tiết, mất chức năng chuyển hoá insulin thì bệnh cao đường huyết và tiểu đường xuất hiện. Nếu gan thận lại bị suy yếu thì sẽ đẩy nhanh quá trình tiến triển của căn bệnh này.
Về chữa trị: Chỉ ăn đường đường mía, đường thốt nốt không có chất phụ gia, không có chất tạo độ cứng, không có chất bảo quản..., tuyệt đối không ăn uống những thứ làm bằng đường "giả". Duy trì chế độ luyện tập cơ thể thường ngày.
1/ Chữa theo cơ chế phục hồi insulin thì dùng thuốc bổ tỳ. Có thể dùng bài Quy tỳ thang sắc uống hoặc dùng hộp thuốc Quy tỳ dưới dạng viên do Công ty dược phẩm TW3 sản xuất.
2/ Chữa theo dân gian:
- Kinh nghiệm người dân vùng Sơn Thành tỉnh Phú Yên: Dùng lá Sakê rụng (khô vàng) 1 lá to, lá ổi 15 lá, đậu bắp 10 trái. Tất cả cho vào ấm đất, đổ 1 lít nước nấu còn 1/4, chia làm hai, uống 2 lần trong ngày.
- Kinh nghiện truyền trong dân gian: Dùng khế chua, trứng gà ta (trứng gà so tốt nhất). Cách làm: Khế chua xay, lượt lấy nước, bỏ xác, đập hột gà bỏ vào, uống liền một hơi. Nếu uống thấy nhợn thì uống liền một mạch kẻo nhợn cổ bắt làm ói. Uống thêm 1 ly trà đậm để chặn, khỏi bị ói. 3 ngày uống 1 lần. Trong 1 tuần đường huyết hạ, sắc mặt hồng hào lại.
- Có thói quen ăn đậu bắp. Có thể ngâm đậu bắp trong ly hoặc tô nước lọc trong 5 đến 6 tiếng để ra nhựa rồi uống nước đó. Trái đem luộc ăn như món rau.
- Một số trường hợp dùng các loại lá hoặc trái có vị chát nấu uống như lá điều, lá ổi, lá và cành tre gai, ruột trái cau, ... nhưng còn tuỳ cơ địa mỗi người mà hiệu quả khác nhau.
- Khoai mài núi (Hoài sơn) hấp hoặc luộc hoặc nấu canh ăn hàng ngày nhằm bổ tỳ vị, làm tăng insulin trong cơ thể, giúp chuyển hoá đường thành năng lượng, không bị thừa đường.